Quyền nhân thân trên không gian mạng ngày được quan tâm. Đặc biệt là khi hình ảnh cá nhân, đời tư cá nhân bị sử dụng khá bừa bãi trên mạng xã hội. Vậy, hành vi sử dụng ảnh của người khác đưa lên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không ?
Tuyên truyền Luật An ninh mạng và phòng ngừa tội phạm trên không gian mạng cho 700 học sinh, giáo viên Tuyên truyền Luật An ninh mạng và phòng ngừa tội phạm trên không gian mạng cho 700 học sinh, giáo viên
Công an TP Móng Cái, Quảng Ninh vừa tổ chức ngoại khóa tuyên truyền Luật An ninh mạng và phòng ngừa tội phạm trên không gian mạng cho hơn 700 em học sinh và cán bộ, giáo viên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên.
Kẻ gian mạo danh cơ quan thực thi pháp luật trên mạng xã hội để chiếm đoạt tài sản Kẻ gian mạo danh cơ quan thực thi pháp luật trên mạng xã hội để chiếm đoạt tài sản
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản giờ đây không chỉ thông qua các hành vi vay, mượn tiền, tài sản đơn thuần mà đã biến tướng dưới nhiều dạng hành vi khác phức tạp và tinh vi hơn, đặc biệt là thông qua mạng xã hội. Đặc biệt trắng trợn, qua mạng xã hội, kẻ gian còn mạo danh cơ quan thực thi pháp luật để lừa con mồi “vào tròng”.

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Điều 32 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Theo căn cứ trên thì khi sử dụng hình ảnh của người khác cần phải được sự đồng ý của người đó, trừ các trường hợp sau:

- Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

- Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Sử dụng ảnh của người khác đưa lên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không?
Nếu ngoại trừ các lý do trên thì người bị sử dụng hình ảnh có quyền khởi kiện ra Tòa án.

Mức xử phạt vi phạm

Trường hợp 1: Hành vi này gây hậu quả không nghiêm trọng: Chỉ Bị xử phạt hành chính

Điểm g, Khoản 3, điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định:

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

Điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử nêu rõ, phạt tiền 10-20 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi "thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật".

Trường hợp cá nhân có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt bằng 1/2 mức phạt đối với tổ chức. Điều này đồng nghĩa với việc, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 5-10 triệu đồng.

Trường hợp 2: Hành vi này gây hậu quả nghiêm trọng: Bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo căn cứ trên nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì tùy vào mức độ gây thiệt hại thì hình phạt nhẹ nhất là phạt cảnh cáo, nặng nhất là phạt tù 5 năm.

Những nhóm hành vi bị cấm trên không gian mạng theo luật an ninh mạng Những nhóm hành vi bị cấm trên không gian mạng theo luật an ninh mạng
Có hiệu lực từ 1/1/2019, Luật An ninh mạng (số 24/2018/QH14) với 7 chương, 43 điều, quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trong đó, đáng chú ý Luật quy định 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm thực hiện trên không gian mạng.
Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet và mạng xã hội Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet và mạng xã hội
Những nội dung trên được quy định tại nghị định 2/2013/NĐ-CP của chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.

In bài viết

Truyền hình